Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chính phủ đã chủ động ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP, ngày 17/4/2020 về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị” và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, cụ thể hóa chủ trương nêu trên bằng Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 về “Phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Quyết định số 942/QĐ-TTg, ngày 15/6/2021 về “Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030”, Quyết định số 411/QĐ-TTg, ngày 31/3/2022 về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số, xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Quyết định nêu trên, Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số đã ban hành Quyết định số 27/QĐ-UBQGCĐS, ngày 15/3/2022 về “Kế hoạch hoạt động của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số năm 2022” để triển khai trong toàn quốc.
Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định 5275/QĐ-BNN-VP, ngày 31/12/2021 về “Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2022” nhằm hai mục đích: (1) Khởi động Chương trình chuyển đổi số Ngành NN; tạo sự thay đổi từ nhận thức đến hành động về chuyển đổi số (CĐS) của tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi giá trị NN. (2) Định hướng, phương án, lộ trình triển khai CĐS Ngành NN đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Về phía tỉnh An Giang, Ban Chỉ đạo về Chuyển đổi số tỉnh ban hành Quyết định số 88/QĐ-BCĐCĐS ngày 09/6/2022 về “Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo về Chuyển đổi số tỉnh An Giang năm 2022” nhằm chỉ đạo các sở, ban, ngành và các địa phương xây dựng Kế hoạch, Chương trình công tác cụ thể để thực hiện CĐS trong năm 2022 và những năm tiếp theo.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (sau đây gọi tắt là Ngành NN), 05 tháng đầu năm 2022, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức, Ngành NN đã đạt được những kết quả tích cực. Các lĩnh vực đều có tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ, trong đó nổi bật nhất là xuất khẩu nông sản đạt 23,2 tỷ USD, tăng 16,8%. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực tiếp tục duy trì được vị trí, thương hiệu trên thị trường quốc tế như: Xuất khẩu hồ tiêu đứng đầu thế giới, tăng 25,7%; xuất khẩu cà phê đứng thứ hai thế giới, đạt gần 02 tỷ USD, tăng 54%; xuất khẩu gạo đạt gần 03 triệu tấn, tăng 10,3%; xuất khẩu thủy sản đạt 4,8 tỷ USD, tăng 46,3%; xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 7,2 tỷ USD, tăng 6,9%. Đây là những kết quả rất đáng khích lệ, tiếp tục khẳng định Ngành NN luôn là “trụ đỡ” của nền kinh tế quốc gia.
Theo khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cả nước có 83,5% HTX đánh giá việc CĐS là cần thiết; 18,9% HTX có kế hoạch, lộ trình thực hiện; 68% HTX sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán sản phẩm trực tuyến. Thực tế cho thấy, việc ứng dụng kỹ thuật số, công nghệ số trong quản lý, sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm đã và đang mang lại nhiều hiệu quả, lợi ích cho HTX. Tuy nhiên, việc CĐS trong khu vực kinh tế tập thể, HTX vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, hơn 56% HTX chưa có định hướng về CĐS (37,5% HTX có chủ trương, quyết tâm nhưng không biết cách làm, không biết bắt đầu từ đâu và 18,9% HTX chưa xây dựng lộ trình, kế hoạch về CĐS cho HTX trong những năm sắp tới).
Theo báo cáo của UBND tỉnh An Giang, tình hình phát triển KT-XH 06 tháng đầu năm 2022, tổng sản phẩm toàn Tỉnh (GRDP) ước tăng 4,98% so cùng kỳ (năm 2021 tăng 5,79%). Trong mức tăng chung nêu trên thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,51% (cùng kỳ năm 2021 tăng 5,69%), trong đó ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản có mức tăng cao 6,83% (cùng kỳ năm 2021 là 1,22%) với sản lượng thu hoạch đạt 232 ngàn tấn, tăng 7,86% so cùng kỳ năm 2021.
Bên cạnh đó, Ngành NN luôn đóng vai trò là “trụ đỡ chính” – động lực phát triển kinh tế nhưng Ngành NN đang gặp không ít khó khăn, thách thức đòi hỏi phải có hướng đi mới để thay đổi căn bản, toàn diện bộ mặt của Ngành NN. Đứng trước nhu cầu cấp thiết đó, công tác chuyển đổi số trong nông nghiệp, HTX (CĐS trong NN, HTX) là tất yếu. Bức tranh tổng thể về thực trạng CĐS trong NN, HTX cả nước nói chung và tỉnh An Giang nói riêng đang có những cơ hội, thách thức đặt ra trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế như sau:
Chuyển đổi số (Digital transformation) là quá trình sử dụng công nghệ, tích hợp các công nghệ kỹ thuật số (Big Data – Dữ liệu lớn, Cloud Computing – Điện toán đám mây, Internet of Things – Internet vạn vật, Artificial Intelligence – Trí tuệ nhân tạo,…) vào tất cả hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của Ngành NN, HTX qua đó làm thay đổi tư duy, cách thức tổ chức tập hợp con người, dữ liệu, quy trình để tạo những giá trị mới trong quản lý, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ truyền thống sang hiện đại, thông minh.
Khi áp dụng CĐS trong NN, HTX giúp phân tích dữ liệu về môi trường, loại đất, cây trồng và các giai đoạn sinh trưởng cây trồng, vật nuôi góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Dựa trên các dữ liệu số khi áp dụng CĐS, người sản xuất sẽ đưa ra các quyết định phù hợp (bón phân, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, điều tiết chế độ ăn cho vật nuôi, thu hoạch, vận chuyển, tiêu thụ,…). Thực tế cho thấy, khi ứng dụng CĐS vào sản xuất NN giúp giảm 40-50% chi phí và công lao động, giảm 50% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, năng suất tăng 30%, từ đó giúp nâng cao thu nhập cho nông dân. Mặt khác, ứng dụng CĐS góp phần tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm, liên kết giữa người “sản xuất – tiêu dùng”, giữa “cung – cầu” từ đó nâng cao sản xuất NN theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững hơn.
Việc CĐS giúp cho việc quản lý, điều hành Ngành NN, HTX nói chung và công ty, doanh nghiệp nói riêng đạt hiệu quả hơn. Đối với các cơ quan quản lý lĩnh vực NN, HTX, việc ứng dụng CĐS trong quản lý, điều hành sẽ giúp đề ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn nhờ hệ thống thông tin báo cáo kịp thời, tăng hiệu quả công việc. Đối với các HTX, doanh nghiệp kinh doanh nông sản, CĐS cũng giúp tăng hiệu quả hoạt động, giảm chi phí sản xuất và tiếp cận nhiều khách hàng hơn. Nhờ đó, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của HTX, doanh nghiệp được nâng cao. Vì vậy, CĐS được xác định là tạo môi trường, lấy “hệ sinh thái CĐS” làm nền tảng, xây dựng thể chế, thúc đẩy chuyển đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” với mục tiêu cuối cùng là phát triển hiệu quả và bền vững NN, HTX.
Bên cạnh một số cơ hội mà CĐS mang lại, việc ứng dụng CĐS NN, HTX còn những bất cập, hạn chế như: Không đồng bộ, rời rạc, thiếu tính hệ thống, chủ yếu dựa vào nhu cầu, sáng kiến của một số HTX, doanh nghiệp, địa phương trong quá trình quản lý, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm NN. Theo thống kê, năm 2021 toàn quốc có 2.200/19.000 HTX nông nghiệp thực hiện CĐS, với gần 02% tổng số hộ nông dân được đào tạo về công nghệ, những hạn chế này xuất phát từ các nguyên nhân như sau:
Thứ nhất, nhận thức hạn chế: Việc ứng dụng CĐS trong quản lý, sản xuất, kinh doanh lĩnh vực NN, HTX tại Việt Nam còn khá mới nên nhận thức của một bộ phận cơ quan quản lý, địa phương, HTX, doanh nghiệp mà đặc biệt là “nông dân” còn hạn chế, chưa thấy được vai trò, tầm quan trọng, sức ép của CĐS trong quản lý, sản xuất. Điều này gây khó khăn cho việc tiếp cận và ứng dụng CĐS trong NN, HTX.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập: Khi thực hiện CĐS đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng, hệ thống dữ liệu được số hóa đồng bộ, hiện đại. Tuy nhiên, hạ tầng kết nối của nước ta đang phát triển, chưa đồng bộ, chưa tạo cơ hội cho nông sản vùng sâu, vùng xa kết nối trực tiếp với hệ thống thương mại điện tử quốc gia. Do đó, việc tiếp cận, ứng dụng CĐS vào quản lý, sản xuất NN, HTX, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do hệ thống dữ liệu NN, HTX các cấp chưa tuân thủ khung kiến trúc của Chính phủ điện tử. Việc ứng dụng công nghệ thông tin của HTX, doanh nghiệp phần lớn chưa đáp ứng nhu cầu CĐS do chưa có cơ sở dữ liệu phục vụ sản xuất, thiếu minh bạch về nguồn gốc sản phẩm, thiếu kết nối chia sẻ thông tin các giai đoạn: Sản xuất, quản lý, logistics, thương mại,… Có thể nói, đây là rào cản và trở ngại lớn cho việc triển khai CĐS trong NN, HTX trong hiện tại những năm tiếp theo.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực về CĐS còn thiếu và yếu: Trong NN số, ngoài tư liệu sản xuất truyền thống, nông dân còn phải sử dụng dữ liệu và công nghệ số. Vì vậy, ngoài kỹ năng sản xuất, nông dân cần biết thêm kiến thức, kỹ năng về quản lý, kinh doanh, công nghệ, kỹ thuật số. Tuy nhiên, số lượng nông dân có trình độ khoa học công nghệ cao còn ít, theo Tổng cục Thống kê, hết quý I/2022, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 26,1%. Ngoài ra, phần lớn nông dân chưa được đào tạo bài bản về CĐS nên khó thao tác, khai thác, ứng dụng công nghệ số, đánh giá hiệu quả khi tham gia CĐS trong NN, HTX. Có thể nói, rào cản này là trở ngại lớn nhất cho CĐS trong thời điểm hiện nay.
Thứ tư, chính sách CĐS chưa phù hợp: Chính sách CĐS chưa kịp thời, chưa phù hợp, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra. Chẳng hạn, chính sách tín dụng hỗ trợ NN công nghệ cao chủ yếu dành cho doanh nghiệp, HTX nhưng cũng khó tiếp cận vì thủ tục rườm rà, phức tạp.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc ứng dụng CĐS trong NN, HTX tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo ứng dụng nhưng vẫn còn “manh mún, chưa đồng bộ” trong NN, HTX và các địa phương. Để thúc đẩy CĐS trong NN, HTX được thuận lợi, hiệu quả cao cần có sự tham gia, phối hợp của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, các HTX, doanh nghiệp và đặc biệt là “nông dân” phải sẵn sàng thay đổi tư duy, cách tiếp cận với khoa học công nghệ số. Qua phân tích những thực trạng, cơ hội, thách thức, tồn tại, hạn chế của CĐS nêu trên, để thực hiện tốt công tác CĐS trong NN, HTX. Nhằm tạo động lực phát triển bền vững nông nghiệp và kinh tế tập thể tại An Giang trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, Nhà nước cần quan tâm các giải pháp sau đây:
Một là, xây dựng và phát triển nền tảng cho CĐS: (1) Chuyển đổi nhận thức: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, nông dân, HTX, doanh nghiệp về CĐS trên các phương tiện thông tin đại chúng; Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về CĐS trên các báo, tạp chí; Tổ chức các hội nghị triển khai kế hoạch, đề án, chương trình CĐS; hội nghị tập huấn về kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức, nông dân, HTX; Tổ chức diễn đàn “Ngày Chuyển đổi số trong NN 19/8”. (2) Kiến tạo thể chế: Ban hành đề án, kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện CĐS NN, HTX; Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, các quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với từng lĩnh vực chuyên ngành để điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong quá trình CĐS. (3) Phát triển hạ tầng số, nền tảng số: Kết hợp mạng Truyền số liệu chuyên dùng các cơ quan Đảng, Nhà nước, mạng diện rộng, mạng nội bộ thành một hạ tầng mạng khép kín, dự phòng lẫn nhau để giảm phụ thuộc vào Internet đối với truy nhập nội bộ; Xây dựng hệ thống giám sát an toàn an ninh mạng để giám sát, điều hành tập trung các hoạt động về ATTT, thực hiện thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu xấu độc trên môi trường mạng để phục vụ hoạt động CĐS được an toàn, thông suốt; Triển khai xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu của Ngành NN, HTX; Xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu Ngành NN, HTX và sẵn sàng kết nối với dữ liệu quốc gia. (4) Phát triển nền tảng dữ liệu số: (a) Hình thành nền tảng dữ liệu số NN, HTX phục vụ công tác quản lý, điều hành Ngành NN, HTX, phát triển thương mại điện tử, dịch vụ NN số. Trước mắt, ưu tiên 08 lĩnh vực: Trồng trọt, Chăn nuôi, Thủy sản, Lâm nghiệp, Quản lý xây dựng công trình, Quản lý chất lượng, nông lâm sản và thủy sản, HTX nông nghiệp. (b) Phối hợp với các bộ, ngành triển khai kết nối, liên thông các nền tảng dữ liệu số thông qua các hệ thống, nền tảng chia sẻ, tích hợp của Ngành NN, HTX, của quốc gia. (5) Bảo đảm an toàn thông tin mạng: (i) Xây dựng quy chế, áp dụng hệ thống quản lý ATTT vào hoạt động của Ngành NN, HTX; (ii) Kiểm tra, đánh giá định kỳ về ATTT đối với các hệ thống thông tin đang vận hành; (iii) Tổ chức diễn tập về bảo đảm ATTT cho Ngành NN, HTX; (iv) Đảm bảo khả năng sao lưu dự phòng, khôi phục dữ liệu quan trọng tối thiểu trong 03 năm. (v) Hoàn thành, duy trì công tác triển khai bảo đảm ATTT theo mô hình 04 lớp.
Hai là, phát triển Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số: (i) Xây dựng và hoàn thiện: Hệ thống quản lý văn bản điều hành, thông tin báo cáo Ngành NN, HTX để kết nối, truyền dữ liệu đến UBND cấp tỉnh, Chính phủ. (ii) Hoàn thiện, tích hợp Cổng dịch vụ công vào Hệ thống thông tin một cửa điện tử của Ngành NN, triển khai đến các đơn vị thực hiện thủ tục hành chính, liên thông với Cổng dịch vụ công quốc gia. (iii) Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá CĐS NN, HTX. (iv) Triển khai số hóa, tài liệu lưu trữ của Ngành NN, HTX. (v) Hoàn thiện CĐS trong công tác theo dõi, đánh giá kế hoạch, đầu tư công của Ngành NN, HTX để đảm bảo 100% các đơn vị báo cáo trực tuyến qua hệ thống cơ sở dữ liệu.
Ba là, phát triển kinh tế số: (i) Xây dựng thí điểm từ 01-02 mô hình mẫu về sản xuất, kết nối thông minh có quy mô vùng, công nghiệp cho lĩnh vực NN, HTX. (ii) Tạo điều kiện, thúc đẩy các tổ chức, HTX, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư, tài trợ, tăng cường nghiên cứu các công nghệ số, phát triển các nền tảng số, tạo ra các dịch vụ nội dung số về NN, HTX để phục vụ phát triển nền kinh tế số. (iii) Đẩy mạnh hoạt động kết nối sản xuất với tiêu thụ nông sản, phát triển ngành nghề, dịch vụ du lịch NN, nông thôn trên nền tảng trực tuyến.
Bốn là, phát triển nông dân số, nông thôn số: (i) Phối hợp với các ngành chức năng triển khai đào tạo, tập huấn kỹ năng số cho các doanh nghiệp NN, HTX, nông dân. (ii) Xây dựng chương trình khung đào tạo về công nghệ số, CĐS cho hệ thống các trường đào tạo thuộc Ngành NN, HTX. (iii) Xây dựng các Câu lạc bộ cộng đồng “Kết nối chuyển đổi số” ở các địa phương, HTX.
Tóm lại: Muốn thúc đẩy CĐS trong NN, HTX thành công thì cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên nhưng phải “làm ngay, làm từng bước, chắc chắn”. CĐS trong NN, HTX là cơ hội, chìa khóa để hiện thực mục tiêu: “Người nông dân sản xuất nông sản chất lượng, chi phí thấp nhất, bán giá cao nhất”, CĐS trong NN, HTX không chỉ là ứng dụng công nghệ tạo thêm những giá trị thặng dư cho nền kinh tế mà còn giúp nông dân, hộ sản xuất, HTX tiếp cận, cập nhật tri thức mới, mở ra cách nghĩ mới, cách làm mới, sẵn lòng thay đổi, để hoà nhịp xu thế phát triển của quốc tế. Mặt khác, việc “nâng cao nhận thức, hành động cụ thể, từng bước, chắc chắn” là khâu then chốt, quyết định sự thành công của CĐS trong NN, HTX. Cuối cùng, cần quan tâm công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch, định hướng CĐS trong NN, HTX dài hạn và hằng năm là công việc rất quan trọng để góp phần thực hiện thành công CĐS trong NN, HTX, góp phần thực hiện tốt chủ trương của tỉnh An Giang là thúc đẩy chuyển đổi số trên ba trụ cột: “Chính quyền số – Kinh tế số – Xã hội số” trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo./.
Tiến sĩ Đào Thanh Hoàng
Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang
(Nguyên Phó Trưởng Cơ quan Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tại phía Nam)









